Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013


Tìm hiểu thơ Đường
13:47 10 thg 12 2011Cá nhân0 Lượt xem1
 
Khái Niệm Thơ

* Mục đích tối cao của luật thơ là giúp cho ta phương tiện sáng tạo âm điệu một cách dễ dàng. Nhưng tuân theo luật thơ một cách ngoan cố thì sẽ làm cho tác phẩm có lúc bị miễn c­ưỡng, khô cứng mất đi cái hồn của thơ.
Cho nên ngoài luật thơ thì người làm thơ phải có hứng thú có ngoại vật cảm kích và phải có tính tình, có chân tâm như thế khi làm thơ tư tưởng mới không bi lạc đi nơi khác. 
Dưới đây là môt số luật thơ cơ bản:
1. ÂM
+. Nguyên âm: gốc của một chữ hay nhiều chữ
- a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, i,……
- oa, ua, ưa, ue, uê, uy, ai, ay, ây, oi, ôi, ơi, …
+. Phụ âm: những chữ khác nguyên âm
- b, c, d, g, h, l, m, n, p, q, r…
- ch, gh, kh, th, nh, ng, ....

2. THANH
+. Thanh Bằng: gồm các chữ không dấu và có dấu huyền
+. Thanh Trắc: gồm các chữ có dấu sắc, hỏi, ngã và nặng

3. VẦN : là hai chữ có cùng âm và cùng thanh

4. VẬN: là cách gieo vần trong câu, có một số cách gieo vần như sau:
+. Cước vận : là cách gieo vần ở cuối câu
+. Yêu vận : là cách gieo vần ở giữa câu
+. Liên vận : là cách gieo vần ở hai câu đi liền nhau
+. Cách vận : là cách gieo vần ở hai câu cách nhau
+. Chính vận : là vần mà hai chữ hoàn toàn giống nhau về âm
+. Cưỡng vận : là vần mà hai chữ có âm tương tự nhau
+. Liên châu vận: là cách gieo vần nối liền nhau như chuỗi hạt châu

5. ĐIỆU
+. Điệu là nhịp, là tiết tấu, là âm tiết.
+. Thi điệu lấy câu làm âm tiết, câu lại có âm tiết của câu, gọi là cú điệu. Mỗi cú điệu gồm nhiều âm tiết, tức nhiều nhịp.

Dưới đây là thí dụ trong một số thể loại thơ thường gặp.
I.Thơ Bốn Chữ
Thơ bốn chữ là loại thơ có thể gọi là đơn giản nhất bởi vì luật bằng trắc chỉ được áp dụng cho chữ thứ hai và chữ thứ tư trong câu mà thôi.
Nếu chữ thứ hai là bằng thì chữ thứ tư là trắc và ngược lại nếu chữ thứ hai là trắc thì chữ thư tư là bằng.
Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm ba loại thường được gọi là cách gieo vần ba tiếng, cách gieo vần tréo và cách gieo vần ôm.
Nhưng nhiều khi câu thơ cũng không tuân theo luật đó.
Cách gieo vần
1.Vần ba tiếng (ít dùng)
Sao biếc đầy trời
Sầu trông viễn khơi
Ðêm mờ im lặng
Nhìn hạt sương rơi

2. Vần tréo
Tôi làm con gái
Buồn như lá cây
Chút hồn thơ dại
Xanh xao tháng ngày

3. Vần ôm
Em tan trường về
Ðường mưa nho nhỏ
Chim non giấu mỏ
Dưới cội hoa vàng

II.Thơ Năm Chữ (Ngũ ngôn cổ thể trường thiên)
Thơ ngũ ngôn có độ dài ngắn khác nhau nhưng được chia thành nhiều khổ nhỏ, mỗi khổ gồm 4 dòng thơ.
Cũng giống như thơ bốn chữ: nếu chữ thứ hai trong cầu là bằng thì chữ thứ tư là trắc và ngược lại. Nhưng cũng có nhiều trường hợp không phải vậy. Cách gieo vần của thể thơ này cũng được chia làm hai loại thường được gọi là cách gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo

Thí dụ: Gieo Vần ôm:
Em có nghe hay chăng
Lá thu đang vẫy gọi
Rừng thu đang đón mời
Em về vơi hoang vắng

Thí dụ: Gieo vần tréo
Trước sân anh thơ thẩn
Đăm đăm ngóng nhạn về
Mây chiều còn phiêu bạt
Lang thang trên đồi quê…

III. Thơ Sáu Chữ
Cách gieo vần của thể thơ này được chia làm hai loại: gieo vần ôm, và cách gieo vần tréo còn luật bằng trắc thì chưa thấy được áp dụng theo bất cứ quy định nào.

Thí dụ: Vần ôm
Nếu ngày mai em có tới
Mang cho anh đám mây xanh
Và một cơn gió trong lành
Làm hành trang anh đi tới

Thí dụ: Vần tréo
Quê Hương là gì hả mẹ ?
Mà Cô Giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hả mẹ ?
Mài ai đi cũng nhớ nhiều

Huyền Kiêu

IV. Thơ Cổ Song Tứ Lục Bát
Hai câu đầu là bốn chữ, câu thứ ba là sáu chữ và câu cuối là tám chữ theo luật như sau:
Đoạn một
x B x T(v)
x T x B(v)
x B x T x B(v)
x B x T x B(v) T B(v*)
đoạn hai:
x B x T(v*)
x T x B(v)
x B x T x B(v)
x B x T x B(v) T B(v)

Nếu như bắt đầu câu thứ nhất là T B T thì câu 4 chữ thứ hai phải là B T B, nhưng câu thu' ba thứ tư đều là B T B như bình thường
Thí dụ:
Lòng như tơ RỐI
Mặn đắng bờ MÔI
Mất nhau ta mất thiệt RỒI
Còn đây nỗi khổ mình TÔI hận LÒNG*

Tâm còn giao ĐỘNG*
Lòng còn Mãi MONG
Bóng hình vẫn giữ trong LÒNG
Người ơi có thấu lệ ĐONG nhạt NHÒA*

V. Song Thất Lục Bát
Thể thơ Song Thất Lục Bát này là của riêng Việt nam ta, cho nên luật thơ không gò bó theo các kiểu thơ khác .
Thơ Song Thất Lục Bát gồm mỗi đoạn có 4 câu, hai câu đầu là Song Thất, có nghĩa là mỗi câu có 7 chữ, hai câu cuối là Lục, Bát, câu thứ ba sáu chữ, câu thứ 4 tám chữ được xắp theo luật bằng trắc như sau:

x x x x B x T(v) x = tự do
x x B x T(v) x B(v) B = thanh bằng
x B x T x B(v) T = thanh trắc
x B x T x B(v) T B(v) v = vần với nhau

Đây là luật thơ trong một đoạn, để có thể nối thêm đoạn nữa thì có thể theo luật sau:
Câu thứ thư của đọan một: x B x T x B(v) T B(v)
Câu thứ nhất đoạn hai: x x x x B(v) x T(v)
Hoặc
Câu thứ thư của đọan một: x B x T x B(v) T B(v)
Câu thứ nhất đoạn hai: x x B(v) x x x T(v)

Thí dụ: (các chữ viế HOA là vần với nhau, các chữ có thêm (*) là nối liền hai đoạn)
Thủa trời đất nổi cơn gió BỤI
Khách má hồng nhiều NỖI truân CHUYÊN
Xanh kia thăm thẳm từng TRÊN
Nào ai gây dựng cho NÊN nỗi NÀY *

Trống Trường Thành lung LAY * bóng NGUYỆT
Khói Cam Tuyền mời MỊT khúc MÂY
Chín tầng gươm báu trao TAY
Nửa đêm truyền Hịch đợi NGÀY xuất CHINH*

VI. Lục Bát Liên Hoàn
Lục Bát là loại thơ một câu sáu chữ rồi đến một câu tám chữ cứ thế nối liền nhau. Bài thơ lục bát thông thường được bắt đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Đôi khi cũng có trường hợp kết thúc bằng câu lục để đạt tính cách lơ lửng, hiểu ngầm, hay hầu đạt tính cách đột ngột.
Lục Bát là thể thơ thông dụng nhất, vì cách làm và gieo vần tương đối đơn giản.
Lục= sáu chữ --- chữ thứ 2 Bằng, thứ 4 Trắc, thứ 6 Bằng
Bát= tám chữ --- chữ thu 2 Bằng, thứ 4 Trắc, thứ 6 Bằng, thứ 8 Bằng
Trong thơ lục bát, chữ thứ sáu của câu Lục, vần với chữ thứ sáu của câu Bát. Chữ thứ tám của câu Bát vần với chữ thứ sáu của câu Lục kế tiếp và cứ theo quy luật đó cho đến hết bài thơ. (Chữ thứ 6 và thứ 8 của câu bát nên thay đổi, hễ chữ này không dấu thì chữ kia có dấu hyền hay ngược lại ).

Ngồi chờ hết cả đêm nay x B x T x B(v)
Chỉ mong anh được xuân này bình yên x B x T x B(v) x B(v)
Cớ sao anh lại không lên x B x T x B(v)
Vô tình anh lại bỏ quên tim này x B x T x B(v) x B(v)

Tuy nhiên vẫn có những trường hợp ngoại lệ
1.Chữ thứ 2 câu lục có thể là trắc, khi ấy nhịp thơ ngắt ở giữa câu
Người nách (T) thước, kẻ tay đao
Đầu trâu mặt ngựa, ào ào như sôi
(Nguyễn Du)

2.Chữ cuối câu lục có thể vần với tiếng 4 câu bát, khi đó chữ 2 và 6 của câu bát sẽ đổi ra trắc. Câu thơ sẽ ngắt nhịp ở giữa câu bát
Đêm nằm gối gấm không êm
Gối lụa (T) không mềm bằng gối (T) tay em
Hoặc
Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao

VII. Đường Luật ( Thất ngôn bát cú )
Thơ Đường được bắt đầu từ bên trung hoa, thời Nhà Đường bên Trung Hoa rất xem trọng các văn hào, và cũng vì lẽ đó nên các quan trong chiều bắt buộc phải biết làm thơ, cho nên trong thời nhà Đường có rất nhiều thi sĩ nổi tiếng. Đặc biệt hơn nữa, các thi hào thời nhà Đường đã phát triển một lối làm thơ riêng biệt mà ngày nay chúng ta được biết là Thơ Đường.
Thơ đường có 2 loại : chính cách và thiên cách
*Chính cách : là những bài thơ mà tác giả tuân thủ triệt để thanh Bằng - Trắc quy định của từng câu
Thể thơ đường luât chính cách được chia làm hai loại
- Trắc thể chính cách
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà ( T B T )
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa ( B T B )
Lom khom dưới núi, tiều vài chú ( B T B )
Lác đác bên sông, rợ mấy nhà ( T B T )
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc ( T B T )
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia ( B T B )
Dừng chân đứng lại: trời non nước ( B T B )
Một mảnh tình riêng: ta với ta ( T B T )
(Bà Huyện Thanh Quan)

- Bằng thể chính cách
Quanh năm buôn bán ở nom sông ( B T B )
Nuôi đủ năm con với một chồng ( T B T )
Lặn lội thân cò khi quãng vắng ( T B T )
Eo sèo mặt nước buổi đò đông ( B T B )
Một duyên hai nợ âu đành phận ( B T B )
Năm nắng mười mưa dám quản công ( T B T )
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc, ( T B T )
Có chồng hờ hững cũng như không ( B T B )
(Tú Xương)
*Thiên cách : là những bài thơ mà tác giả áp dụng luật " Nhất tam ngũ bất luận".
_ Nhưng từ trước đến giờ không mấy ai theo một cách triệt để. Luật " Bất Luận" luôn luôn được áp dụng, không nhiều thì ít.
Giá trị của Luật Bất Luận là làm cho ngòi bút của thi nhân được thêm phần phóng túng.

Bố Cục Của Thơ Đường Luật
Trong thơ Đường Luật, mỗi một câu đều có chức năng của nó:
Câu 1 và 2 là phá đề và thừa đề.
Câu 3 và 4 là Thực hay Trạng, dùng để giải thích hoặc đưa thêm chi tiết bổ nghĩa đề bài cho rõ ràng
Câu 5 và 6 là Luận, dùng để bàn luận cho rộng nghĩa hay cũng có thể dùng như câu 3 và 4
Câu 7 và 8 là Kết, kết luận ý của bài thơ

Những chữ cuối của câu số 1, 2, 4, 6, và 8 là những chữ mang vần trong bài thơ và thuờng thì mang thanh BẰNG và bắt buộc phải vần với nhau theo cùng một âm, những chữ này có thể mang thanh Trắc, nhưng chưa bao giờ thấy cả.
Những chữ cuối của những câu 3, 5,và 7 mang thanh Trắc và không phải vần với nhau (nếu chữ cuối của những câu 1, 2, 4, 6, và 8 là thanh Trắc thì có lẽ chữ cuối của những câu này mang thanh Bằng)
Cũng giống như Thất Ngôn Tứ Tuyệt, luật bằng trắc trong Đường Thi Chính cách cũng chỉ áp dụng cho những chữ 2, 4, và 6 trong mỗi câu mà thôi.
Điểm khó nhất trong Đường Thi là câu số ba và câu số bốn, bởi vì hai câu này được gọi là hai câu Thực và hai câu năm và câu sáu là hai câu Luận, hai cặp câu này luôn luôn đối nhau, Danh Từ đối Danh Từ, Động Từ đối Động Từ, Tính Từ đối Tính Từ, quan trọng hơn cả là hai câu 5,6 phải đối ý với hai câu 3,4 hoặc bổ sung cho ý của câu 3,4 .
Điểm cao nhất của Đường Thi là có thể Hoạ Thơ với người khác, nghĩa là sẽ dùng lại tất cả những chữ mang Vần của bài thơ muốn họa tức là bài thơ của người đầu tiên( thường được gọi là bài Xướng Thi) để diễn tả theo ý thơ của mình.

VIII. Bát Ngôn
Thơ bát ngôn ( tám chữ ) thường làm theo lối liên vận hoặc cách vận.
Liên vận: câu đầu thường không bắt vần, từ câu hai trở đi mới cặp vần. Cứ hai câu bằng rồi đến hai câu trắc hay ngược lại. Cách chia thành từng đoạn 4 câu trong thể liên vận chỉ là hình thức vì câu đầu đoạn sau vẫn cần vần với câu cuối đoạn trước.
Thôi thì gió mang niềm riêng đi cất
Để từng ngày tiếp nối những sầu vương
Cuối cuộc đời chào biệt thú đau thương
Tan muôn ngã theo mây ngàn, gió nhé!

_ Cách vận: câu lẻ vần với câu lẻ và câu chẳn vần với câu chẳn. Như vậy một đoạn 4 câu cần hai vần, nhưng ngược lại các đoạn không cần nối vần với nhaụ.

Em không đến, làm sao ta biết được
Đời sống này, hạnh phúc có hay không?
Mưa đã đến, cọng cỏ xanh mọng nước
Riêng trời ta, mây xám vẫn mênh mông

Một biến dạng của thơ tám chữ cách vận là trong 1 đoạn 4 câu chỉ cần câu 4 vần với câu 2; còn hai câu lẻ mang vần trắc là đủ.

Vì bát ngôn không có quá gò bó, từ ngữ bạn dùng sẽ làm bài thơ trở nên hay hơn. chỉ cần uốn nắn, uyển chuyển dùng từ sẽ tạo ra một bài thơ thật hấp dẫn.
Thí dụ :
Mùa xuân về đang đón những bước em
Chút hờ hững vẫn đong đầy trên lá
Con bướm vàng cánh vờn bay hối hả
Bóng lung linh trong những giọt sương mềm

Trong một câu, nên có sự cân bằng giữa số lượng các vần bằng và vần trắc ví dụ Bằng /Trắc = 3/5 hay ngược lại . Vần bằng trắc cũng nên xen kẽ đều đặn để câu thơ uyển chuyển nhịp nhàng . Gieo vần thì có nhiều cách.
1. Gieo vần ôm :
- Chữ cuối câu 1 vần với chữ cuối câu 4, cuối câu 2 vần với cuối câu 3 .
Thí dụ :
Ngươi ám ảnh hương thơm bằng ánh sáng
Ru màu êm, mà gọi thức lòng ngây
Trăng, nguồn sương làm ướt cả gió hây
Trăng, võng rượu khiến đêm mờ chếnh choáng
2. Gieo vần chéo :
Chữ cuối câu 1 vần với cuối câu 3, và/hoặc chữ cuối câu 2 vần với cuối câu 4.
Thí dụ:
Tạo hóa hỡi ! Hãy trả tôi về Chiêm Quốc !
Hãy đem tôi xa lánh cõi trần gian!
Muôn cảnh đời chỉ làm tôi chướng mắt !
Muôn vui tươi nhắc mãi vẻ điêu tàn

Chú ý : bằng vần với bằng, trắc vần với trắc . Bằng không bao giờ vần với trắc . Ví dụ :lồng không vần với lộng
Nếu làm thơ nhiều đoạn, chữ cuối câu 4 của đoạn trước luôn vần với chữ cuối câu 1 của đoạn sau
Thí dụ :
Làm thi sĩ , nghĩa là ru với gió
Mơ theo trăng, và vơ vẩn cùng mây,
Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,
Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến

Đây là quán tha hồ muôn khách đến
Đây là bình thu hợp trí muôn hương;
Đây là vườn chim nhả hạt mười phương,
Hoa mật ngọt chen giao cùng trái độc

IX. HaiKu
Hai-Ku có nguồn gốc từ nhật, qua các thời đại dần dần len lỏi vào nền văn hóa Viêt Nam. Hiện nay loại thơ nay cũng được các nước tây phương như, Anh, Pháp, Mỹ tiếp nhận.
Về hình thức thì Hai-Ku gồm ba câu và 17 âm. Ba câu được chia ra thành 5,7,5 câu năm, câu bảy, và câu năm. Không biết người Nhật viết làm sao ( no speak Japanese ) nhưng khi làm thử trong tiếng việt nguyenvq rút ra rằng có thể để cho chữ cuối của mỗi câu vần với nhau sẽ làm bài Hai-ku của bạn đọc xuôi tai hơn.
Thí dụ:
Sinh ra từ bụi cát
Đến hôm nay ta còn phiêu bạt
Bao giờ hết hoang mang

Trên đây là một bài Hai-Ku hoàn chỉnh, Hai-ku không cần dài vì chỉ là một quan niệm hoặc một ý tưởng nhỏ viết nên mà thôi. Tuy nhiên Hai-Ku được xếp vào thể thơ có ý nghĩa sâu sắc trong nền thơ văn Nhật Bản. Theo người Nhật, Hai-Ku dùng để diễn tả bốn mùa trong năm, không nhất thiết phải dùng từ ngữ về các mùa, nhưng có thể dùng hình ảnh, biểu tượng như: Tuyết cho mùa đông, hoa cho mùa xuân,,, vân vân.
Thí dụ:
Hoa tuyết còn rơi đều
Trắng ngần một cõi hồn rong rêu
Và đêm nay ta nhớ

Một số Ðiều Kỵ Trong Thơ
1-Thất luật
Những từ đáng Bằng mà làm ra Trắc hoặc đáng Trắc mà làm ra Bằng
2-Thất niêm
Câu trên đang theo luật Bằng mà câu dưới sang luật Trắc hoặc câu trên đang theo luật Trắc mà câu dưới làm sang luật Bằng
3-Lạc vận
Ðang theo vần này mà gieo sang vần khác, như vần trên là trời mà vần dưới là mây thì gọi là lạc vận
4-Xuất vận
Người ta đã hạn định cho những cho những vần gì, mà mình dùng vần khác,thì gọi là xuất vận.
5-Trùng vận
Câu trên đã dùng một vần, câu dưới lại dùng như thế nữa thì gọi là trùng vận.
6-Cưỡng áp
Các vần gieo ép uổng, không được hợp lắm
7-Khổ độc
Trong một bài thất ngôn, chữ thứ ba các câu chẵn, trong một bài ngũ ngôn, chữ thứ nhất các câu chẵn đáng là từ bằng mà làm ra từ trắc
8-Phong yêu hạc tất
Trong thơ thất ngôn, từ thứ tư và tứ thứ bảy, trong thơ ngũ ngôn, từ thứ hai và từ thứ năm nếu trùng một âm.
9-Ðối không chỉnh
Khi những từ trong bài thơ phải đối nhau mà từ nặng từ nhẹ không được cân.
10-Trùng từ hay trùng ý
Từ hay ý đã dùng rồi mà lại còn dùng nữa.
Nguồn
Nothing is eternal but my love for You. Fenghuang_ntu, I love You forever!
Lên trên
-------------------------
1.HỌA VẬN 
Một người làm bài xướng lên , một người nữa làm bài khác họa lại mà các vần trong bài họa phải theo y như các vần trong bài xướng , còn ý nghĩa hoặc phụ theo cho rộng , hoặc trái hẳn lại ( phản đề ) :

Hỏi Ả Bán Chiếu

Xướng
Ả ở đâu nay bán chiếu gon ?
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
Đã có chồng chưa được mấy con ? 
( Nguyễn Trãi )

Họa
Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon .
Cớ chi ông hỏi hết hay còn ?
Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ
Chồng còn chưa có , nói chi con ! 
( Nguyễn thị Lộ )

2- THỦ NHẤT THANH ( NHẤT ĐỒNG) 

Từ đứng đầu 8 câu đều giống nhau .

Tám Mừng

Mừng đón xuân về muôn sắc hoa ,
Mừng xuân , xuân mới , mới thêm ra .
Mừng nghe nhựa sống như còn trẻ ,
Mừng thấy đời tươi , chửa muốn già .
Mừng khoẻ đôi chân đi đứng vững ,
Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa .
Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi
Mừng được trường xuân hưởng thái hòa .
 
(1986 Lạc Nam )

3- SONG ĐIỆP

Tất cả 8 câu đều có hai điệp từ :

Chuyện Đời

Vất vất vơ vơ , cũng nực cười ,
Căm căm cúi cúi có hơn ai .
Nay còn chị chị anh anh đó ,
Mai đã ông ông mụ mụ rồi .
Có có không không lo hết kiếp ,
Khôn khôn dại dại ,chết xong đời.
Chi bằng láo láo lơ lơ vậy ,
Ngũ ngũ ăn ăn nói chuyện chơi . 
( Nguyễn Công Trứ )

Mặc định (default)

4-SONG ÐIỆP ÐỘC VẬN

Tất cả 8 câu đều có 1 từ và chỉ có 1 vần .

Xuân và thơ

Xuân tự ngàn xưa, bạn với thơ
Tình Xuân là cả vạn lời thơ
Ðẹp duyên hoa bút , Xuân ngời sắc
Rộn khúc Xuân thiều , nhạc ánh thơ
Xuân vắng , oanh hờn , dầu dáng liễu
Xuân về hương tỏa ngát lời thơ
Xuân nương thi sỉ, đôi người ngọc
Dệt mộng ngày Xuân , lộng ý thơ .
 ( Lạc Nam )

5- DĨ ÐỀ VI THỦ

Lấy 8 từ đầu để mở đầu cho 8 câu thơ :

Xướng : " Trăm điều hãy cứ trong vào một ta "

Trăm nỗi bân khuân góp chuyện lòng
Ðiều chi mà ngại nghĩa non sông
Hãy buông lá thắm xuôi dòng vắng
Cứ để hoa đào cợt gío đông
Trông nẽo lầu thơ chờ hạnh ngộ
Vào trong giấc mộng đợi tao phùng
Một phen tâm sự hòa theo nhạc
Ta sẽ cùng nhau viết thỉ chung


Họa : " Ði đâu chẳng biết con người sở khanh "

Ði mãi đường xa đã biết lòng
Ðâu còn mơ tưởng núi cùng sông
Chẳng đem thơ ấy treo lầu vắng
Biết chọn hoa nào bán chợ đông
Con mắt chưa từng xanh thế tục
Người quen đành tạm trắng tương phùng
Sở Tần , xin nhắn thà xa cách
Khanh tướng đâu mà nghĩ đỉnh chung !


6- DĨ ÐỀ VI VẬN

Lấy đầu đề làm vần :

Không Chồng Trông Bông Lông

Xướng :

Bực gì bằng gái chực phòng không
Tơ tưởng vì chung một tấm chồng
Trên gác rồng mây ngao ngán nhẽ !
Bên trời cá nước ngẫn ngơ trông
Mua vui lắm lúc cười cười gượng
Gỉa dại nhiều khi nói nói bông
Mới biết có chồng như có cánh
Giang sơn gánh vác nhẹ bằng lông 
( Nguyễn Khuyến )

Họa :

Phật rằng sắc sắc với không không
Sắc sắc không không khó chất chồng
Ân oán , nhiều người còn có ngóng
Trai oán , lắm kẻ vẫn chờ trông
Thế gian , nhân quả nhanh như bóng
Cõi Phật , nhân duyên nhẹ tựa bông
Xuân đến hoa xuân tươi đẹp mãi
Luân hồi ra khỏi, hết bông lông 
( Cổ Lai Hy ( nhóm Silicon ))

7- TOÁN THI

Cả bài câu nào cũng có từ chỉ con số :

Thân phận gái

Một sớm phân vân bước xuống thuyền .
Tưng bừng hai họ nỗi sầu riêng .
Lặng nhìn ba má đôi giòng lệ .
Xác pháo bốn bề nát phận duyên .
Năm tháng rồi đây tùy số kiếp .
Hoài lang sáu nhịp vọng chim uyên .
Bảy ba chìm nổi tình nhi nữ .
Đôi tám sang ngang , đạo chính chuyên . 
( Tùng Linh )

8- LIÊN HOÀN

Thể thơ có nhiều đoạn , câu cuối của đoạn trên được chuyển thành câu đầu của đoạn dưới :

Thi Lấy Được

Anh Phán nhà ta biết cóc gì
Kỳ thi Tham biện cũng ra thi
Nhất thì anh đỗ , nhì anh trượt
Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi

Chẳng đậu khoa này , khoa khác đi
Nam nhi chi chí , há lo gì
Một , hai , ba , bốn , năm năm trượt
Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi

Nhẳn mặt quan trường , chẳng thẹn chi
Trượt thi , thi trượt , vẫn gan lì

... ... ... ( Tú Mỡ )


Lính Tập Vinh Qui

Chú đội qua Tây thắng trận về .
Cả nhà đón rước thật mừng ghê !
Ông già , bà lão gồm hai cụ
Vợ giảnh (1) , con ngoan đủ mọi bề
Nảy ngực mề đay tiền bạc chói
Rạng mình khố đỏ áo vàng xuê
Giang sơn mày mặt càng tươi tốt
Bộ cất tay lên ngó cũng nghề (2)

Bộ cất tay lên ngó cũng nghề
Miệng cười tróm trém , húi râu dê (3)
Xông pha trăm trận từng hăm hở
Gánh vác hai vai ghẹo (4) nặng nề !
Mở mặt Tiên Rồng dòng Đại Việt
Nổi danh hùng hổ cõi Âu-Tê (5)
Trong tình cảnh nọ dầu không vẻ
Văng vẳng dường nghe tiếng ắc - đê ! (6) 
( N.V.H )

(1)- vợ giảnh : vợ đẹp ( tiếng Nghệ )
(2)- Có vẻ tay nghề
(3)- Bộ râu xén như râu dê
(4)- Dù công việc có nặng đến đâu , cũng không ngại
(5)- Âu Tê : Âu Tây
(6)- ắc - đê : tiếng hô đi đều của lính Pháp

9- Ô THƯỚC KIỀU

Thể thơ liên hoàn như trên , nhưng lấy 2 từ cuối , hoặc nhắc lại 2 , 3 từ nào đó ở câu cuối của bài trên để mở đầu cho câu 1 của bài dưới :

Chống Tôn Thọ Tường

Lung lay lòng sắt đã mang nhơ ,
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ .
Người trí mang lo danh chẳng chói ,
Đứa ngu luống sợ tuổi không chờ .
Bài hòa đã sẵn in tay thợ ,
Cuộc đánh hơn thua giống nước cờ .
Chưa trả thù nhà , đền nợ nước ,
Dám đâu mắt lấp với tai ngơ .

Tai ngơ sao đặng lúc tan tành ,
Luống biết trách người chẳng trách mình .
Đến thế còn khoe đàng đạo nghĩa ,
Như vầy cũng gọi kẻ trâm anh .
Biển khơi vụng tính dung thuyền nhỏ ,
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành .
Thân có , ắt danh tua phải có ,
Khuyên người ái trọng cái thân danh .

Thân danh chẳng kể , thật thằng hoang ,
Đốt sáp nên tro lụy chẳng màng .
Hai cửa trâm anh xô sấp ngữa ,
Một nhà danh giá xóa tan hoang .
Con buôn khắp khởi chưa từng ngọc ,
Người khó xăng xăng mới gặp vàng .
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc ,
Dể đâu ta dám tiếng khoe khoang .
 
( Phan văn Trị (1830 - 1910 )
10- THỂ TẬP DANH

a /. Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài :

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi ,
Cổ Hy (1) chưa dễ mấy lăm người .
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt ,
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai .
Bè bạn bày vai kèo (2) chén  (3) ,
Cháu con dưới gối múa sân Lai (4) .
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thật ,
Chữ đức giả xương máu để đời .
 
( Nguyễn Khuyến )


(1) Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
(2) Rót rượu mời người khác uống .
(3) Chén rượu của Lý Bạch , nhà thơ uống rượu nổi tiếng .
(4) Lão Lai : theo điển tích là người nước Sở vào thời Xuân Thu , tuổi đã ngoài 70 , còn cha mẹ , giả cách khóc như trẻ con làm cho cha mẹ vui .

b /- Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người :

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no ,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò .
Thù nước , thù vua , ngay mặt chịu ,
Công sưu , công ích , cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng ,
Còn ngậm lông mèo (1) chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc ,
Rung đùi , chí nghĩ " tám đùi " (2) to !
 
( Nhi Mỹ )

(1) Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ Nho ( nghĩa bóng )
(2) Tám đùi : văn xưa gọi là " bát cổ " dịch là tám vế , vế đồng nghĩa với đùi .

11- THỂ TÍNH DANH

Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh hoặc một điển tích của người Hoa hay người Việt v.v... . Thể loại này , xưa kia các cụ đồ Nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học .

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rở nhớ thương
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương .
 
( Toại Khang )


(1) Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường .
(2) Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành .
(3) Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau " sống làm vợ chồng , chết làm chim liền cánh cây liền cành " .
(4) Bạch Cư Dị , thi hào đời Đường , đêm đậu thuyền ở bến Tầm Dương viết nên bài Tỳ Bà Hành xót thương cho một người ca nữ tuổi về chiều .
(5) Chung Tử Kỳ - Bá Nha : chuyện Bá Nha đập đàn đi , không khảy nữa , khi hay tin Tử Kỳ chết .
(6) Trương Quân Thụy và Thôi Oanh tình tự dưới mái Tây hiên .
(7) Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ .
(8) Ngưu Lang và Chức Nữ đứng 2 bên của sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng bảy Âm lịch .

12- SẮC THÁI

Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc hoặc trạng thái của màu sắc :

Chiều Nổi Màu Thu

Trời thu bóng ác rực màu vang ,
Trườn trượt vào lưng rặng núi vàng .
Cánh nhạn chiều tà , sương lót trắng ,
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam .
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía ,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng .
Nếu chẳng vươn tìm hoa sún tím ,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam .
 
( Toại Khang )
10- THỂ TẬP DANH

a /. Trong mỗi câu có danh từ gắn với đề tài :

Mừng Ông Lão Hàng Thịt Ăn Thượng Thọ

Nay tiết mừng ông mới Bảy mươi ,
Cổ Hy (1) chưa dễ mấy lăm người .
Răng long nhưng hãy còn tinh mắt ,
Đầu bạc nhưng mà chửa tắc tai .
Bè bạn bày vai kèo (2) chén  (3) ,
Cháu con dưới gối múa sân Lai (4) .
Xưa nay vẫn giữ lòng chân thật ,
Chữ đức giả xương máu để đời .
 
( Nguyễn Khuyến )


(1) Do câu " nhân sinh thất thập cổ lai hy " .
(2) Rót rượu mời người khác uống .
(3) Chén rượu của Lý Bạch , nhà thơ uống rượu nổi tiếng .
(4) Lão Lai : theo điển tích là người nước Sở vào thời Xuân Thu , tuổi đã ngoài 70 , còn cha mẹ , giả cách khóc như trẻ con làm cho cha mẹ vui .

b /- Mỗi câu thơ có 1 từ chỉ bộ phận trong thân thể con người :

Học Trò

Dài lưng tốn vải lại ăn no ,
Nghĩ ngán cho thân phận học trò .
Thù nước , thù vua , ngay mặt chịu ,
Công sưu , công ích , cắm đầu lo !
Vẫn giương mắt ếch mà ra quáng ,
Còn ngậm lông mèo (1) chả sợ ho !
Nói đến chuyện đời tai điếc đặc ,
Rung đùi , chí nghĩ " tám đùi " (2) to !
 
( Nhi Mỹ )

(1) Ngậm lông mèo : ngậm bút chữ Nho ( nghĩa bóng )
(2) Tám đùi : văn xưa gọi là " bát cổ " dịch là tám vế , vế đồng nghĩa với đùi .

11- THỂ TÍNH DANH

Câu nào cũng có từ chỉ nhân danh hay địa danh hoặc một điển tích của người Hoa hay người Việt v.v... . Thể loại này , xưa kia các cụ đồ Nho chuộng lắm vì như thế các cụ mới chịu cho là có học .

Lỗi Thề

Vùi oan bạc mệnh sóng Tiền Đường (1)
Ngọn đuốc Chiêm Thành (2) rở nhớ thương
Chắp cánh đẹp gì câu Thất Tịch (3)
Ôm cầm say mãi gái Tầm Dương (4)
Lỗi thề Chung Tử (5) sầu tri kỷ
Hoen mái Tây hiên (6) lệ đoạn trường
Hồ Hán (7) ngậm ngùi mây cách biệt
Ngân Hà (8) mưa gió nẻo cầu sương .
 
( Toại Khang )


(1) Kiều trầm mình ở sông Tiền Đường .
(2) Công chúa Huyền Trân phải sang lấy vua Chiêm Thành .
(3) Đường Minh Hoàng và Dương Qúi Phi đêm 7 tháng 7 âm lịch thề cùng nhau " sống làm vợ chồng , chết làm chim liền cánh cây liền cành " .
(4) Bạch Cư Dị , thi hào đời Đường , đêm đậu thuyền ở bến Tầm Dương viết nên bài Tỳ Bà Hành xót thương cho một người ca nữ tuổi về chiều .
(5) Chung Tử Kỳ - Bá Nha : chuyện Bá Nha đập đàn đi , không khảy nữa , khi hay tin Tử Kỳ chết .
(6) Trương Quân Thụy và Thôi Oanh tình tự dưới mái Tây hiên .
(7) Chiêu Quân nhà Hán sang cống Hồ .
(8) Ngưu Lang và Chức Nữ đứng 2 bên của sông Ngân Hà nhớ nhau khóc thành mưa ngâu trong tháng bảy Âm lịch .
12- SẮC THÁI

Câu nào cũng có từ chỉ màu sắc hoặc trạng thái của màu sắc :

Chiều Nổi Màu Thu

Trời thu bóng ác rực màu vang ,
Trườn trượt vào lưng rặng núi vàng .
Cánh nhạn chiều tà , sương lót trắng ,
Chòm mây mưa nhạt khói mờ lam .
Lầu thu thoát nắng nâng rèm tía ,
Vườn vắng còn đây nở đóa vàng .
Nếu chẳng vươn tìm hoa sún tím ,
Thì đâu được ngắm nguyệt da cam .
 
( Toại Khang )
THỂ THƠ BỎ LỬNG
Mỗi câu thơ ở phần cuối dùng từ lấp lửng không trọn nghĩa để người đọc tự đoán lấy

Người đâu .... ? 

Thác bức rèm châu chợt thấy mà ...
Chẳng hay người ấy có hay là ...
Nét thu gợn sóng hình như thể ... 
Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là ....
Khuôn khổ ra chiều người ở chốn ...
Nết na xem phải thói con nhà ...
Dở dang nhắn gửi xin thời hãy ...
Tình ngắn , tình dài chút nữa ta ...
13. THỂ TRIỆT HẠ

Từ cuối của mỗi câu thơ để bỏ lững làm cho câu thơ chưa trọn nghĩa , khiến người đọc phải vận dụng suy nghĩ .

Gái Hồng Nhan

Thấy gái hồng nhan bỗng chốc mà ...
Hỏi thăm cô ấy chửa hay đa\ ...
Hình dung yểu điệu yêu như thể ...
Diện mạo phương phi ngó tưởng là ...
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn ...
Nói năng phải lẻ giống con nhà ...
Ước gì ta được mà ta để ...
Ta để đem về để nữa ta ...
 
( Ngyễn Qúy Tân )

14. THỦ VĨ NGÂM

Thể thơ trong đó câu đầu và câu cuối đều giống nhau .

Khoe Lười

Anh em chớ bảo tôi lười ,
Làm việc cho hay phải thức thời .
Xuân hãy còn chơi cho phỉ chí ,
Hạ mà cất nhắc tất hoài hơi .
Thu sang cảm nguyệt còn ngâm vịnh ,
Đông lại hằm chăn tạm nghĩ ngơi .
Chờ đến xuân sang ta sẽ liệu ,
Anh em chớ bảo tôi lười .
 
( Tú Mỡ )

Đèn Kéo Quân

Lúng túng trong vòng mấy đứa đen ,
Nhở khi đỏ lửa mới hay hèn .
Nghênh ngang vơng giá phô đồ giấy ,
Đủng đỉnh dù che nép bóng đe\n .
Thằng trước thằng sau liền gót chạy ,
Anh trên anh dưới vểnh râu lên .
Này ai say tỉnh nhìn xem thử ,
Lúng túng trong vòng mấy đứa đen .
 
( Khuyết danh )

Khóc Quan Phủ Vĩnh Tường

Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi
Tuổi chửa ba mươi cũng một đời .
Chôn chặt văn chương ba thước đất ,
Ném tung hồ thỉ bốn phương trời .
Nắm xương dưới ván chau mày khóc ,
Hòn máu trên tay mĩm miệng cười .
Hăm bảy tháng trời là mấy chốc ,
Trăm năm quan Phủ Vĩnh Tường ơi .
 
( Hồ Xuân Hương )

15. THỂ YẾT HẬU

Các câu trên có đủ từ cả , riêng câu dưới cùng chỉ có một từ .

Rượu Say Nhè

Sống ở nhân gian đánh chén cay ,
Trăm năm ngày tháng giữ be đầy .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Say " !

Sống ở nhân gian đánh chén khè ,
Trăm năm ngày tháng giữ đầy be .
Diêm vương phán hỏi " Ai đó " ?
" Nhè " !
 
( Phạm Thái )

16. THỂ ÁP CÚ

Từ cuối của câu trước trở thành từ đầu của câu sau .

Sang Canh

Năm nảo năm nao cũng ước lành
Lành , còn mong hết ? đón sang canh
Canh trời thắc thỏm phương xin lộc
Lộc nước lăm le khách vít cành
Cành lá đ e ^m qua dù thiếu nụ
Nụ đ a\o xuân hé đẹp hơn tranh
Tranh đời mới lại màu hoa gấm
Gấm vóc sơn hà lộng sắc xanh .
 
( Toại Khang )
17. THỂ HẠN VẬN 

Người ra đề cho vần nào ta phải dùng vần ấy . Thể thơ này khác với thể Họa vận vì không có bài xướng để dựa theo mà họa , hơn thế nữa , ta phải :

Tả ý thơ theo đầu đề
* Dùng 5 vần hạn định ( trong 8 câu ) 


Thí dụ : Cuộc thi thơ do học gỉa Phan Kế Bính tổ chức như sau :

a . đầu đề là :
Trống treo ai dám đánh thùng
Bậu không , ai dám dở mùng chun vô ?




b . 5 vần hạn định : xô , cô , vô , ô , rô ...

Bài thơ sát với đầu đề , hạ đúng 5 vần hạn định , được giải nhất mà tác giả lại là một nhà sư chân tu !!! ... như sau đây :

Nào phải là ai dám giục  ,
Thuận tình trước hết tự nơi  .
Có cho mới dám trao dùi đánh ,
Không hẹn nào ai đẩy cửa  ?
Mảng sướng kể gì thân lễ nghĩa ,
Ham vui quên hết chuyện dâm ô .
Thói hư thuần thước xưa còn lạc ,
Đừng học làm chi gióng nhảy  !



18. THỂ PHÚ ĐẮC 

Giải thích và phát triển ý của một câu ca dao hay một câu thơ bằng một bài thơ , nhưng nội dung phải phù hợp với sự việc đó , ta hãy xem qua bài này :

1. Già Còn Muốn Lấy Chồng

Phú đắc : Bà già đã bãy mươi tư , Ngồi trong cửa sổ gửi thư kén chồng . 

Đã trót sinh ra kiếp má đào ,
Bảy mươi tư tuổi có là bao ?
Xuân xanh xấp xỉ hàng răng rụng ,
Ngày vắng ân cần mảnh giấy trao .
Chữ nhất nhi chung đành đã vậy (1) ,
Câu tam bất hiếu (2) nữa làm sao ?
May mà lấy được ông chồng trẻ ,
Họa có sinh ra được chút nào ?
 
( Nguyễn Khuyến )

(1) Nhất nhi chung : chỉ có một chồng cho đến trọn đời .
(2) Tam bất hiếu : do có câu " Bất hiếu hữu tam , vô hậu vi đại " , nghĩa là tội bất hiếu có 3 điều , không có con ( trai ) nối dõi là tội to nhất .

Bài thơ của tác giả vào cuối thế kỷ XVIII và đầu XIX với quan niệm Nho giáo trào phúng và có bảo thủ hẹp hòi so với phương Tây . Cụ Nguyễn Khuyến , thật sự khác với lối suy nghĩ của chúng ta ngày nay , mong các bạn đừng lấy làm thắc mắc


2. ( Không rỏ tựa đề )

Phú đắc : Tối um um , trống điểm thùm, dáng lum khum , có lẻ hùm ! quán tùm hum ! 

Trời hôm như mực cỏ xanh um ,
Kẽm trống đâu đây bước đánh thùm .
Ven núi chẳng nề cao với thấp ,
Qua cầu đếch biết thẳng hay khum .
Đường mây , ngọn gió , đôi đàn vạc ,
Móng đá , chân sim , một đấu hùm .
Sực thức đêm khuya thương kẻ lạnh ,
Màn , chăn , đệm ấm hủm hùm hum .
 
( Lê lượng Thể )

19. LÁY THƠ

Thể thơ mà trong đó hoặc ở đầu câu , ở giữa câu hay ở cuối câu đều có các từ láy . Láy có 3 loại :

a /. Láy từ : Từ dùng trước được láy lại toàn bộ ở từ sau : ngời ngời , xinh xinh , ngà ngà , ngoan ngoan ...

b /. Láy âm : Bộ phận phụ âm đầu của từ trước được láy lại ở bộ phận phụ âm của từ sau : khó khăn , đỡ đần ...

c /. Láy vần : Bộ phận vần của từ trước được láy lại ở bộ phận vần của từ sau : bồn chồn , lẩm cẩm , cheo leo , riu ríu , lôi thôi ...

Và được phân bố trong 3 thể :

1/. Láy đôi :

Quan Khánh

Đứng tréo trông theo cảnh hắt heo
Đường đi thiên thẹo , quán cheo leo .
Lợp lều quán cỏ tranh xơ xác ,
Xỏ kẽ kèo tre đót khẳng khiu .
Ba chạc cạy xanh hình uốn éo ,
Một dòng nước biết cảnh leo teo .
Thú vui quên cả niềm lo lắng ,
Kìa cái diều kia nó lộn lèo .
 
( Hồ Xuân Hương )

2/. Láy ba ( hay còn gọi là Vỹ Tam Thanh ) : sạch sành sanh , sát sàn sạt , ti tí tị ...

Ngẫu Hứng

Tiếng gà bên gối tẻ tè te ,
Bóng ác trông lên hé hẻ hè .
Cây một chồi cao von vót vót ,
Hoa năm sắc nở lóe lòe loe .
Chim tình bè lứa kia kìa kịa ,
Ong , nhĩa vui tôi nhé nhẽ nhè .
Danh lợi mặc người ti tí tị ,
Ngủ trưa chửa dậykhoẻ khoè khoe .
 
( Vô danh )


3/. Láy tư : ( Song điệp : xem thể Song điệp ) Trùng trùng điệp điệp , lúng ta lúng túng , hớt hơ hớt hải , áo áo quần quần ...

Hạ Long Tức cảnh

Trùng trùng điệp điệp núi chon von ,
Ảo ảo mơ mơ thế trận hồn .
Lớp lớp hàng hàng hòn Bái Tử ,
Non non nước nước một lòng son .
 
( Tùng Linh )

Mặc định (default)

20. ĐẢO TỪ :

Là thể thơ có những cụm từ đôi được lái thành cụm từ đôi khác ( hoặc cụm từ ba, nhưng rất ít ) , như trong câu : " Con cá đối nằm trong cối đá " . hoặc trong cảnh Trạng Quỳnh ngồi bờ ao chơi đá bèo làm cho bà chúa thơ Nôm phải đỏ mặt .

Muốn Quy Thuyền

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu
Na bường bước tới nương bà vãi
Dầu sãi không tu cũng giải sầu
 
( Thảo Am )

Nhắn Bạn

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông
Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi
Cười ngã nghiên cho mệt cả người
 
( Thảo Am )

21. THỂ VẤN NGHI

Câu nào cũng theo thể hỏi , nên sau mỗi câu đều được đặt dấu hỏi cả .

Vấn Nguyệt

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn ?
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn ?
Hỏi con Ngọc Thố đà bao tuổi ?
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con ?
Đêm thắm cớ chi soi gác tía ?
Ngày xanh còn thẹn với vừng son ?
Năm canh lơ lững chờ ai đó ?
Hay có tình riêng với nước non ?
 
( Khuyết danh )

22. THUẬN NGHỊCH ĐỘC VẬN

Thể thơ khi đọc xuôi là một bài thơ , mà đọc ngược cũng là một bài thơ . Thể thơ này đòi hỏi công phu ghép từ thật khéo và phải làm theo đúng luật bằng , trắc để có thể đọc xuôi , đọc ngược đều có nghĩa , câu thơ phải chải chuốt không khổ đọc .

Cảnh Tây Hồ 

( Đọc xuôi )
Đây vui thực lạ cảnh Tây Hồ !
Trước tự trời kia khéo vẽ đồ .
Mây lẫn nước xanh màu tỏ ngọc ,
Nguyệt lồng hoa thắm vẻ in châu .
Cây la tán rợp từng cao thấp ,
Sóng gợn cầm tiêu nhịp nhỏ to .
Bày khéo thú vui non nước đủ ,
Tây Hồ gía ấy đễ đâu so !
 
( Khuyết danh )

( Đọc ngược )
So đâu dễ ấy giá Hồ Tây ?
Đủ nước non vui thú khéo bày .
To nhỏ nhịp tiêu cầm gợn sóng ,
Thấp cao từng rợp tán lá cây .
Châu in vẻ thắm , hoa lồng nguyệt ,
Ngọc tỏ màu xanh nước lẫn mây .
Đồ vẽ khéo kia trời tự trước ,
Hồ Tây cảnh lạ thực vui đây !


Xuân Hứng 

( Đọc xuôi Hán văn )
Thi đàn tế lễ lộng hoa hài ,
Khách bộ tùy sương ẩn bích đài .
Kỳ cục đã thanh phong giáp trận ,
Tửu hồ khuynh bạch tuyết hòa bôi .
Sơ liêm thấu nguyệt hương hung trúc ,
Tuyết án lăng hoa vị áp mai .
Phi phất thảo am đầu tĩnh điếm ,
U tình cố nãi thuộc quyên ai !
 
( Khuyết danh )

( Đọc ngược theo phiên âm chữ Nôm )
Ai quen thuộc ấy có tình ư ?
Điếm tĩnh đầu am cỏ phất phơ .
Mai ép mùi hoa lùng án tuyết ,
Trúc lồng hương nguyệt thấu rèm thưa .
Chén hòa tuyết trắng nghiên hồ rượu ,
Trận giáp phong thanh đánh cuộc cờ .
Rêu biếc in sương theo bước khách ,
Hài hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .


23. PHÁ CÁCH

Thơ làm thất niêm có dụng ý

Đèo ba dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo.
 
(Hồ Xuân Hương)


Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đã nhầm.

Chú thích : Bài thất ngôn bát cú này được làm theo thể bình , vần bằng , nhưng không theo niêm luật .


24. THỂ LIÊN NGÂM

Thể thơ trong đó 2 hoặc nhiều người làm chung một bài thơ lần lượt nhau mỗi người một hoặc hai câu . Tương truyền , bài Cảnh Tây Hồ , thể Liên Ngâm là bài thơ độc nhất vô nhị trên thi đàn Việt Nam do Bà Chúa Liễu Hạnh cùng ông Phùng Khắc Khoan , một ông họ Lý và một ông họ Ngô ( cả 2 không rõ danh tính ) chơi thuyền ở Hồ Tây cùng liên ngâm . Thường người mỡ đầu bài liên ngâm thì cũng là người kết thúc bài .

Liễu : Hồ Tây riêng chiếm một bầu trời
 : Bát ngát tứ mùa rộng mắt coi
Cỏi ngọc xanh xanh làng phía cạnh

Phùng : Trâu vàng biêng biếc nước vàng khơi .
Che mưa nhà lợp vài gian cỏ
 .

Ngô : Chèo gió ai bơi một chiếc chài .
Giậu thủng chó đùa đàn sủa tiếng .

.......................................................
.......................................................
Phùng : Đông hết thành xuân chữa thấy mai ,
Thú cảnh yên hà sang dễ đọ .

Ngô : Sóng lòng trần tục dạ đầy vơi ,
Xe săn Vị Thủy tha hồ hỏi .

 : Thuyền tới Đào Nguyên mặc sức bơi ,
Chuông sớm giục thanh lòng Phật đó .

Liễu : Trăng tròn soi bóng một tiên thôi !

( Nguyên văn chữ Hán Truyện Liễu Chúa , Phan Kế bính dịch Nôm trong Việt Hán văn khảo .)

Ngoài ra còn một số thể thơ sau đây mà các sưu tầm viên chưa tìm ra được bài mẫu :

25. KỴ ĐỀ 

Thể thơ trong đó tất cả 8 câu đều không có từ nào chỉ đề tài mà vẫn thể hiện đầy đủ yêu cầu của đề tài .

26. CÔ NHẠN XUẤT QUẦN
27. CÔ NHẠN NHẬP QUẦN ( các bằng hữu , xin đừng suy diễn tục
)

28. LIÊN CHÂU
Ảnh của Hoainiem
4000 
  • Ngô Bích Kiều
    Haizz !!! In ra hết cũng khoảng 17 trang đấy chứ, về đọc thử xem sao? Cũng muốn viết vài bài cho nó hoàn chỉnh chứ Út ít xem luật lắm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét